Rộng cửa cho mô hình co-working

Thứ Năm, 11/10/2018, 14:03 GMT+7

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, phong trào khởi nghiệp và sức ép đô thị hóa cộng với sự “trỗi dậy” của thế hệ 8x, 9x là những cơ hội lớn cho thị trường co-working tại Việt Nam.

Thị trường rộng lớn

Theo nhận định của ông Lars Wittig, Tổng giám đốc Regus Phillipines, Việt Nam và Campuchia, với sự phát triển của công nghệ, xu hướng sử dụng các không gian làm việc chung (co-working) đã thực sự bùng nổ. Giờ đây, chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, người ta có thể truy cập tất cả các thông tin cần thiết mọi nơi, mọi lúc.

Do vậy, dù ở đâu bạn cũng có thể làm việc với hiệu quả cao nhất. Đồng thời, sức ép đô thị hóa và vấn nạn kẹt xe, tắc đường ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM cũng làm tăng nhu cầu đối với các trung tâm co-working space ở nhiều địa điểm khác nhau.

“Thị trường co-working space tại Việt Nam vẫn đang phát triển dưới mức kỳ vọng so với tiềm năng thực sự. Tôi lấy ví dụ, tại các nước trong khu vực như Phillipines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan…, Regus có từ 25-35 trung tâm mỗi nước. Còn ở Việt Nam, chúng tôi có chưa tới 10 trung tâm.

Trong khi Việt Nam, cùng với Indonesia và Phillippines, đang được coi là điểm sáng tăng trưởng của Đông Nam Á. Tôi nghĩ không có lý do gì để Việt Nam không thể bắt kịp các nước trong khu vực về số lượng trung tâm làm việc chung”, ông Lars Wittig nhấn mạnh.

Theo báo cáo của CBRE Việt Nam, trong vài năm trở lại đây, nguồn cung co-working space tại Việt Nam tăng trung bình 58%/năm. Các nhà đầu tư khá lạc quan về xu hướng sử dụng co-working space tại Việt Nam, một số quỹ xác nhận rót vốn vào các chuỗi hiện hữu và một số công ty nước ngoài khác đang có ý định thâm nhập thị trường này.

Theo CBRE Việt Nam, nếu phân khúc co-working space duy trì mức tăng trưởng trung bình 50% mỗi năm như hiện tại thì diện tích cũng chỉ chiếm 2% tổng diện tích văn phòng làm việc vào năm 2020. CBRE dự báo, những đơn vị vận hành co-working space như Toong, Dreamplex và Up sẽ tiếp tục mở thêm nhiều địa điểm mới để tăng thị phần.

Ông Jeremy Sheldon, Giám đốc Điều hành Dịch vụ thương mại và tích hợp châu Á - Thái Bình Dương của Jones Lang Lasalle (JLL) cũng cho rằng, với các tổ chức sử dụng không gian làm việc để thúc đẩy hiệu suất của nhân viên cũng như thu hút và giữ chân người tài, co-working space sẽ tiếp tục là lựa chọn của họ trong năm 2018-2019. Những nơi có ứng dụng công nghệ cao, cá nhân hóa không gian làm việc kết hợp khu ăn uống, chăm sóc sức khoẻ, phòng gym tạo ra những trải nghiệm cho nhân viên sẽ thành công hơn trong “cuộc chiến” giành giật tài năng.

Thực tế cho thấy, khách hàng của các khu co-working space thường làm công việc độc lập, khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ, thương mại điện tử... Họ thường được nhắc đến với tên gọi “thế hệ millennials” (là thế hệ những người sinh ra trong giai đoạn 1980 đến 2000, không có khoảng cách giữa công việc và hưởng thụ, làm và chơi). Thế hệ này luôn tìm kiếm sự trải nghiệm khi được hòa nhập vào cộng đồng.

Nghiên cứu của PricewaterhouseCoopers (PwC) cho thấy, đến năm 2020, millennials sẽ chiếm 50% lực lượng lao động toàn cầu. Tại các đô thị như TP. HCM, thế hệ này đang gia tăng và phần nào giải thích vì sao mô hình co-working space có nhiều dư địa để phát triển.

“Ước tính đến hết năm 2018, thị trường co-working space ở Việt Nam sẽ tăng trưởng mạnh cả về số lượng lẫn quy mô, tổng diện tích coworking space cuối năm sẽ tăng trên 90.000m2, đạt mức tăng trưởng 58%/năm. Tỷ suất lợi nhuận được một số người làm trong ngành chia sẻ ở mức 10%”, ông Jeremy Sheldon nhận định.

Ở một góc độ khác, theo nhận định của giới chuyên gia, giảm chi phí vận hành là một trong những lý do chính để co-working space phát triển, giúp tiết kiệm từ 30-65% cho doanh nghiệp so với tự thuê, đầu tư và vận hành một văn phòng truyền thống. Với tiềm năng đó, giới chuyên môn dự đoán thời gian tới lĩnh vực này sẽ chứng kiến cuộc đua gay cấn giữa các nhà đầu tư trong nước với những tên tuổi lớn trong khu vực và thế giới.

Bà Nguyễn Hoài An, Giám đốc CBRE Hà Nội chia sẻ: “Do mô hình này hiện nay vẫn còn khá mới mẻ nên còn nhiều dư địa phát triển và tốc độ dự kiến sẽ còn gia tăng mạnh mẽ trong những năm tới”.

Khảo sát của CBRE tại Việt Nam còn cho thấy, 91% số người sử dụng không gian làm việc chung có độ tuổi dưới 35. Tỷ lệ này cao hơn so với trung bình thế giới là 67%. Nếu như những tiện ích cho thuê được coi là “phần cứng” thì “phần mềm” của một co-working space là sự tương tác tích cực giữa các thành viên.

Để tạo được giá trị cộng thêm này, người quản lý một không gian làm việc chung thường phải nắm rõ thông tin, kết nối thành viên khi nhận thấy khả năng hợp tác giữa họ qua các buổi sinh hoạt chung. Không gian tại các co-working space cũng thường được bố trí để các thành viên tương tác với nhau một cách tự nhiên, tổ chức những chương trình hội thảo, workshop để cung cấp kiến thức và kinh nghiệm cho doanh nghiệp khởi nghiệp.

Bên cạnh đó, theo Regus Việt Nam, sự tăng trưởng nóng trong vài năm trở lại đây là hội tụ của các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Thứ nhất, từ khoảng tháng 7/2016, Việt Nam đã có những thay đổi về mặt chính sách theo hướng cởi mở hơn, điều này cho phép Regus dễ dàng mở rộng quy mô hoạt động.

Thứ hai, trong vài năm gần đây, nhu cầu thị trường cũng đã tăng theo cấp số nhân. Co-working space đã trở thành một xu hướng không thể phủ nhận. Nó đã trở thành lối sống chứ không chỉ là một cách thức làm việc.

Ngoài việc giúp cho mọi người làm việc một cách linh hoạt hơn, co-working space còn có khả năng kết nối các doanh nghiệp và xây dựng cộng đồng. Khi bạn làm việc tại một địa điểm co-working, bạn không chỉ làm việc với những đồng nghiệp trong công ty bạn, mà còn có cơ hội gặp gỡ và tương tác với nhiều người khác.

Những bạn trẻ thế hệ 8x, 9x có thể giao lưu với thế hệ 6x, 7x, những doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận các tập đoàn đa quốc gia, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực A có thể kết nối dễ dàng với các doanh nghiệp trong lĩnh vực B.

Nhưng cần đi đúng hướng

Theo CBRE Việt Nam, về mặt vị trí, không gian làm việc chung ở Việt Nam nhìn chung không nằm ở các tòa nhà hạng A, do đơn vị vận hành cần giữ giá thuê ở mức hợp lý, mà chủ yếu nằm tại các tòa nhà ở khu vực ngoài trung tâm.

Về phương thức tiếp cận thị trường của các nhà đầu tư ngoại, đại diện CBRE Việt Nam cũng cho rằng, sự xuất hiện của các đơn vị vận hành theo chuỗi sẽ mở đầu cho giai đoạn hợp nhất và các hoạt động sáp nhập, mua lại trong ngành. Điều này sẽ khiến các không gian làm việc chung đang hoạt động kém hiệu quả, hoặc không còn phù hợp, phải đóng cửa, nếu các nhà đầu tư không cải thiện chất lượng dịch vụ.

Kỳ vọng về thị trường, ông Lars Wittig kỳ vọng: “Tôi thực sự rất mong có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam tham gia thị trường co-working space vì chính điều này sẽ mang lại nhiều sắc màu và mở ra nhiều mô hình kinh doanh độc đáo, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài đang có ý định đầu tư vào thị trường co-working Việt Nam, họ nên nghiên cứu kỹ thị trường, tìm hiểu kỹ văn hóa và lịch sử của Việt Nam để từ đó nắm bắt nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, vấn đề nhân sự cũng hết sức quan trọng. Các doanh nghiệp cần tuyển dụng những nhân sự phù hợp, có khả năng thích ứng nhanh, đáp ứng được nhu cầu phát triển của doanh nghiệp”.

Theo các chuyên gia, ngày nay, môi trường kinh doanh thay đổi rất nhanh. Sẽ rất khó để các doanh nghiệp biết được 2-3 năm nữa họ sẽ có bao nhiêu nhân viên, và cần bao nhiêu bàn làm việc. Doanh nghiệp của họ có thể sẽ sáp nhập với doanh nghiệp khác, hoặc họ sẽ mua thêm 1 bộ phận kinh doanh nào đó, hoặc sẽ xóa sổ một vài bộ phận làm ăn không hiệu quả... Do đó, các doanh nghiệp cần phải thích nghi với sự thay đổi liên tục.

“Các doanh nghiệp Co-working sẽ cạnh tranh với không chỉ một, mà là nhiều thương hiệu khác nhau. Đơn cử như tại Việt Nam, Regus trực thuộc Tập đoàn IWG vốn có 8 thương hiệu để đáp ứng nhu cầu của các phân khúc khách hàng khác nhau trên thị trường. Chúng tôi cũng đang làm việc để sớm ra mắt SPACES - một trong những thương hiệu trực thuộc IWG -  tại Việt Nam”, ông Lars Wittig cho biết.

Nhất Nam
Theo ĐTCK