Siết tỷ lệ đảm bảo an toàn ngân hàng tác động như thế nào đến doanh nghiệp?

Thứ Ba, 16/04/2019, 08:00 GMT+7

Việc nâng cao các tiêu chuẩn an toàn sẽ giúp các ngân hàng an toàn hơn trong hoạt động, song cũng làm giảm khả năng cung ứng tín dụng của các nhà băng, đặc biệt là tín dụng trung dài hạn.

Ngân hàng tăng phòng thủ
 
NHNN Việt Nam đang xây dựng Thông tư quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi tắt là ngân hàng) để thay thế Thông tư 36/2014/TT-NHNN và các Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 36.
 
Về cơ bản các ngân hàng vẫn phải tuân thủ 7 giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn như hiện hành, bao gồm: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, trừ tỷ lệ an toàn vốn áp dụng đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định riêng của NHNN, giới hạn cấp tín dụng; Tỷ lệ khả năng chi trả; Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn; Tỷ lệ mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; Giới hạn góp vốn, mua cổ phần; Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Tuy nhiên, mức độ của từng giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn dự kiến sẽ được nâng cao hơn khá nhiều.
 
Đơn cử như quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu tiến gần hơn chuẩn mực, thông lệ quốc tế (Basel I và Basel II) trên cơ sở phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất. Đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người gửi tiền, tăng cường khả năng chịu đựng rủi ro của các TCTD trước những cú sốc của thị trường…
 
Theo đó, mặc dù các nhà băng vẫn phải đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất là 9%, song cấu phần tổng tài sản có rủi ro đã có nhiều thay đổi khi hệ số rủi ro được điều chỉnh tăng nhằm đảm bảo kiểm soát, hạn chế đối với lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cụ thể, kể từ 1/1/2020 hệ số rủi ro đối với khoản cho vay cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống có số dư nợ gốc từ 3 tỷ đồng trở lên sẽ được nâng lên 150% thay vì mức 50% như hiện hành.
 
Đáng chú ý nhất là việc NHNN đề xuất 2 phương án giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn xuống còn 30%. Theo phương án 1, tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn sẽ là 40% từ ngày Thông tư này có hiệu lực đến hết ngày 30/6/2020. Còn từ 1/7/2020 đến hết ngày 30/6/2021, tỷ lệ này sẽ được giảm về còn 35% và sẽ giảm tiếp về còn 30% từ 1/7/2021.
 
Trong khi theo phương án 2, lộ trình điều chỉnh chậm hơn. Cụ thể, từ ngày Thông tư này có hiệu lực đến hết ngày 30/6/2020 tỷ lệ tối đa là 40%; từ 01/7/2020 đến hết ngày 30/6/2021, tỷ lệ tối đa giảm còn 37%; từ 1/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022 tối đa 34% và từ 1/7/2022 sẽ được giảm về tối đa 30%.
 
Tác động tới doanh nghiệp
 
Theo một chuyên gia ngân hàng, việc nâng cao hệ thống phòng thủ của các ngân hàng thông qua việc thắt chặt hơn quy định về giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn sẽ khiến các nhà băng hoạt động an toàn hơn, chống đỡ tốt hơn với các cú sốc. Tuy nhiên, những quy định này cũng sẽ làm giảm khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng, đặc biệt là tín dụng trung dài hạn. 
 
“Khi hệ số rủi ro của nhiều khoản vay được nâng lên đồng nghĩa với hệ số an toàn vốn của các ngân hàng sẽ giảm đi, ngay cả khi tổng tài sản có của ngân hàng không thay đổi. Lẽ đương nhiên, điều đó sẽ làm giảm khả năng cung ứng tín dụng của các nhà băng”, vị chuyên gia này phân tích.
 
Song điều đáng quan tâm hơn cả, theo vị chuyên gia này, chính là đề xuất giảm tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn về còn 30%. “Quy định này là một thách thức không nhỏ không chỉ đối với các ngân hàng mà cả nền kinh tế”, vị chuyên gia này cho biết.
 
Chẳng hạn như với các ngân hàng, mặc dù thời điểm phải áp dụng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn 40% đã được lui từ 1/1/2018 thành 1/1/2019, thế nhưng không ít nhà băng vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tuân thủ. Hiện không ít ngân hàng có tỷ trọng cho vay trung dài hạn lên tới 60-70% tổng dư nợ và tỷ trọng này khó có thể giảm trong một sớm một chiều.
 
Số liệu thống kê của NHNN Việt Nam cũng cho thấy, tại thời điểm cuối tháng 1/2019, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các NHTM Nhà nước là 31,56% và của các NHTMCP là 32,94%. Điều đó cũng có nghĩa, nếu Dự thảo Thông tư được thông qua, chắc chắn nhiều ngân hàng sẽ phải rất hạn chế cho vay trung dài hạn, thậm chí sẽ có ngân hàng chỉ lo giảm dư nợ tín dụng trung dài hạn.
 
Trong khi đó, hiện doanh nghiệp vẫn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng, cả vốn ngắn, trung và dài hạn. “Mặc dù hiện quy mô tín dụng đã lên tới trên 130% GDP, song quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ đạt 8,57% GDP. Điều này cho thấy, trái phiếu chưa phải là kênh huy động vốn chủ yếu của các doanh nghiệp, mà doanh nghiệp vẫn đang dựa nhiều vào vốn vay ngân hàng”, vị này cho biết và dự báo, thực trạng trên khó có thể thay đổi trong một vài năm tới do hiện đa phần doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, tính minh bạch trong hoạt động, quản trị, báo cáo tài chính còn nhiều hạn chế nên rất khó có phát hành được trái phiếu để huy động vốn. Điều đó cũng có nghĩa, nếu nguồn vốn trung dài hạn tiếp tục bị siết lại, chắc chắn sẽ là một cú sốc đối với doanh nghiệp. Chưa kể, việc siết chặt tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn có thể đẩy mặt bằng lãi suất tăng lên, đặc biệt là lãi suất trung dài hạn.
 
“Khó khăn lớn nhất chính là các doanh nghiệp bất động sản khi mà việc giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn hay việc nâng hệ số rủi ro đối với các món vay tiêu dùng trên 3 tỷ sẽ tác động chủ yếu đến lĩnh vực này, vị chuyên gia trên nhấn mạnh.
 
Hà An
Theo DDDN